弟弟发烧了,三天没去上学。
Dìdi fāshāo le, sān tiān méi qù shàngxué.
Em trai bị sốt, ba ngày không đi học.
姐姐每天放学回家,都把弟弟班上的作业带回来。
Jiějie měi tiān fàngxué huí jiā, dōu bǎ dìdi bān shang de zuòyè dài huílái.
Ngày nào tan học về, chị cũng mang bài tập của lớp em về.
晚上,她还向弟弟的同学借了笔记,一点一点地教弟弟。
Wǎnshang, tā hái xiàng dìdi de tóngxué jièle bǐjì, yìdiǎn yìdiǎn de jiāo dìdi.
Buổi tối, chị còn mượn vở ghi của bạn cùng lớp em, giảng cho em từng chút một.
弟弟病好了回到学校,正好赶上了一次小考。
Dìdi bìng hǎo le huídào xuéxiào, zhènghǎo gǎn shangle yí cì xiǎo kǎo.
Em khỏi bệnh quay lại trường, vừa kịp một bài kiểm tra nhỏ.
他考了一百分,老师在全班表扬了他。
Tā kǎole yìbǎi fēn, lǎoshī zài quán bān biǎoyángle tā.
Em được một trăm điểm, cô giáo khen em trước cả lớp.
回家后,弟弟把一张写着“最好的老师”的小卡片送给了姐姐。
Huí jiā hòu, dìdi bǎ yì zhāng xiězhe “zuì hǎo de lǎoshī” de xiǎo kǎpiàn sòng gěile jiějie.
Về nhà, em tặng chị một tấm thiệp nhỏ có ghi “Cô giáo tuyệt nhất”.