晚上,宋老师正在备课,客厅的灯突然灭了。
Wǎnshang, Sòng lǎoshī zhèngzài bèikè, kètīng de dēng tūrán miè le.
Buổi tối, cô Tống đang soạn bài thì đèn phòng khách bỗng tắt.
她买了一个新灯泡,站在椅子上换,可是够不着。
Tā mǎile yí ge xīn dēngpào, zhàn zài yǐzi shang huàn, kěshì gòu bu zháo.
Cô mua bóng đèn mới, đứng lên ghế để thay, nhưng với không tới.
她又在椅子上放了一个小凳子,结果差点儿摔下来。
Tā yòu zài yǐzi shang fàngle yí ge xiǎo dèngzi, jiéguǒ chàdiǎnr shuāi xiàlái.
Cô lại đặt thêm một chiếc ghế đẩu lên ghế, kết quả suýt nữa ngã xuống.
她想了想,去楼下邻居家借了一个梯子。
Tā xiǎngle xiǎng, qù lóu xià línjū jiā jièle yí ge tīzi.
Cô nghĩ một lúc rồi xuống nhà hàng xóm tầng dưới mượn một cái thang.
这次她很快就换好了灯泡,客厅又亮了。
Zhè cì tā hěn kuài jiù huàn hǎole dēngpào, kètīng yòu liàng le.
Lần này cô thay bóng đèn rất nhanh, phòng khách lại sáng.
第二天上课,她对学生们说:“遇到问题,先想办法,别着急。”
Dì-èr tiān shàngkè, tā duì xuéshengmen shuō: “Yùdào wèntí, xiān xiǎng bànfǎ, bié zháojí.”
Hôm sau lên lớp, cô nói với học sinh: “Gặp vấn đề thì nghĩ cách trước, đừng vội.”